Kỹ thuật nuôi chăm sóc thỏ thịt, thỏ thương phẩm, thỏ sinh sản mang lại giá trị kinh tế cao

Thỏ là một trong những vật nuôi mang lại giá trị kinh tế cao, giúp nhiều hộ nông dân vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Trong vài năm trở lại đây, nhu cậu về thịt thỏ đang tăng cao do sự lo ngại về thực phẩm bẩn gia tăng. Trong khi đó, thịt thỏ được đánh giá là sạch và an toàn do được chăn nuôi chủ yếu bằng thức ăn tự nhiên.

Thỏ có giá trị kinh tế cao nhưng muốn nuôi thỏ thành công cần phải nắm được một số đặc điểm về sinh lý, tiêu hóa, hiện tượng bất thường, đặc điểm sinh sản, kỹ thuật nuôi và chăm sóc thỏ theo lứa tuổi. Đặc biệt cũng cần phải chú ý tới cách phòng, trị bệnh cho thỏ một cách hiệu quả nhất.

Các giống thỏ phổ biến ở Việt Nam

Hiện ở Việt Nam có nhiều giống thỏ, mỗi giống có những đặc điểm và mang lại giá trị kinh tế khác nhau. Bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ tới bà con các giống thỏ được nuôi nhiều nhất, đặc điểm sinh trưởng của từng loại hiện nay.

Thỏ giống nội

Thỏ giống nội được nuôi nhiều nhất tại Việt Nam hiện nay là giống thỏ đen và xám (tên gọi lấy từ màu sắc lông của thỏ).

Thỏ đen: Là giống thỏ có sức đề kháng cao, ít bệnh, phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng ở Việt Nam. Đang được nuôi rất phổ biến theo hướng thịt và có thể dùng để lai tạo với các giống ngoại có nhiều lông để vừa bán thịt vừa bán lông.

Thỏ giống nội - Thỏ đen Việt Nam
Thỏ giống nội – Thỏ đen Việt Nam

Đặc điểm chính: Ngoại hình khá nhỏ, một màu đen kể cả mắt. Khi trưởng thành nặng trung bình 3,4kg. Có thể đẻ 7 lứa/năm, 6-7con/lứa.

Thỏ xám: Đặc điểm giống với thỏ đen, khác ở khi trưởng thành thỏ xám nặng hơn khoảng 0,3kg/con so với thỏ đen. Phân biệt với thỏ đen qua màu sắc, chúng có màu xám tro hoặc màu ghi. Ở phía dưới bụng, cổ, đuôi có điểm màu trắng.
Đặc điểm chính: Khi trưởng thành, thỏ đen/xám có thể nặng tới gần 5kg/con. Thời điểm động dục vào khoảng 4-5 tháng tuổi.

Thỏ giống ngoại

Có 2 loại giống ngoại nhập từ nước ngoài sinh trưởng và phát triển tốt tại Việt Nam là giống thỏ Newzealand và California. Trong đó, thỏ Newzealand hiện đang là giống thỏ được nuôi nhiều nhất ở Việt Nam do sinh trưởng nhanh và có giá trị kinh tế cao.

Giống thỏ Newzealand: Nhập từ Newzealand, thường có màu trắng, mắt màu hồng, bộ lông rất dày. Khi trưởng thành nặng hơn các giống nội khoảng từ 1-1,5kg/con. Thời điểm động dục muộn hơn giống nội khoảng 1 tháng. Có thể đẻ 5-6 lứa/năm, 5-7 con/lứa. Vì lông rất dày nên ngoài bán thịt còn có thể bán lông thỏ.

Giống Thỏ Newzealand - Giống thỏ được nuôi nhiều ở Việt nam
Giống Thỏ Newzealand – Giống thỏ được nuôi nhiều ở Việt nam

Giống thỏ California: Đây không phải giống thuần chuẩn mà là thỏ lai, gốc từ Mỹ. Lông chúng cũng màu trắng, tuy nhiên không trắng toàn thân mà thường ở phần mũi, đuôi, tai, chân có một ít màu đen (đậm khi thời tiết lạnh và mờ khi thời thiết nóng). Khi trưởng thành, giống thỏ này thường nặng hơn giống thỏ nội khoảng 0,5kg/con. Có thể đẻ 5 lứa/năm, 5-6 con/lứa.

Thỏ giống lai

Đây là những giống thỏ khó để xác định được nguồn gốc, nên khó có tên gọi cụ thể cho những con được lai. Thông thường chúng sẽ được gọi dựa vào đặc điểm bên ngoài như thỏ bướm, thỏ đen, thỏ trắng …

Thỏ giống- Thỏ Lai ở Việt Nam
Thỏ giống- Thỏ Lai ở Việt Nam

Kỹ thuật chọn giống thỏ

Để kỹ thuật nuôi thỏ thịt thật sự mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình thì bước đầu tiên phải lựa chọn giống thật tốt. Có được những con thỏ giống như ý muốn phải tìm địa chỉ quen biết, tin tưởng họ là những người nuôi thỏ có nhiều kinh nghiệm, quản lý đàn giống tốt, chăm sóc thỏ cẩn thận.

Thỏ chọn làm giống phải khoẻ mạnh, lưng phẳng, cơ thăn, bắp đùi, mông phải đầy đặn và chắc chắn. Chỉ chọn mua những con thỏ có thể lực tốt, linh hoạt, nhạy cảm, mắt sáng sủa, mũi khô, tai và chân sạch sẽ không có vẩy, lông bóng mượt, răng cửa mọc bình thường.

Với đa số các giống thỏ, con cái có thể bắt đầu phối giống được lúc 5 tháng tuổi trở lên, con đực thì muộn hơn khoảng một tháng, vào lúc 6 tháng tuổi trở lên. Chọn giống thỏ đực thì tìm con đầu to, chân tay to, mập mạp, ngực nở, đặc biệt có dương vật thẳng và hai quả cà (tinh hoàn) đều nhau, nở nang (không bị lép).

Có 2 phương pháp chọn giống

Chọn giống theo gia phả: tức là phải theo dõi đời trước bố mẹ, ông bà với 2 chỉ tiêu là sinh trưởng và sinh sản. Trong đó, chỉ tiêu về tỷ lệ đậu thai phải 70%, số lứa đẻ/năm 6-7 lứa, tỷ lệ sống từ sơ sinh – 30 ngày là phải trên 80%. Trọng lượng lúc cai sữa phải đạt từ 400-500gr/con.

Chọn theo đặc điểm cá thể: Đối với thỏ đực: chọn thỏ có đầu to, tai dày hình chữ V, lưng phẳng, có tính hăng, quan sát tinh hoàn lộ rõ, chân khỏe, ngực sâu. Đối với thỏ cái: chọn những con lưng phẳng, 4 chân khỏe mạnh, khoảng xương chậu rộng và số vú từ 8-10 vú.

Mô hình nuôi thỏ phổ biến ở Việt Nam

Hiện ở Việt Nam có 2 mô hình nuôi thỏ phổ biến nhất ở Việt Nam là chăn nuôi thỏ thả vườn và chăn nuôi thỏ trong nhà- chuồng trại (nhốt chuồng).

Mô hình và kỹ thuật nuôi thỏ thả vườn

Đây là mô hình không cần đầu tư nhiều vốn hay chuồng trại, ít công lao động, chất lượng thịt thỏ thơm ngon, săn chắc. Tuy nhiên, hiện mô hình nuôi thỏ thả vườn ít được phổ biến ở Việt Nam do năng suất không cao, khó quản lý đàn và chỉ thích hợp cho những hộ có vườn rau rộng hoặc gần những vườn cây, bìa rừng.

Mô hình nuôi thỏ thả vườn chỉ thích hợp cho những hộ có vườn rau rộng hoặc gần những vườn cây, bìa rừng
Mô hình nuôi thỏ thả vườn chỉ thích hợp cho những hộ có vườn rau rộng hoặc gần những vườn cây, bìa rừng

Cách chăm sóc thỏ thả vườn

  • Tiêm vacxin đầy đủ cho thỏ con trước khi thả ra vườn.
  • Khi thả thỏ ra vườn nhớ thả vào mùa hè khi thời tiết hanh khô, tránh những ngày ẩm ướt vì thỏ sẽ rất dễ mắc bệnh.
  • Khi nuôi thỏ thả vườn, chủ nuôi không cần làm chuồng, chỉ cần tạo một nơi trú nho nhỏ bằng thân cây hoặc bất cứ gì có thể chui vào được.
  • Phân của thỏ sẽ thải trực tiếp trong vườn và bón lại cho cây.
  • Mỗi lứa nuôi thỏ thường kéo dài khoảng 3 tháng. Sau đó nên để cho đất có thời gian phục hồi.
  • Ngoài thức ăn sẵn có trong vườn, nếu có thể người nuôi nên bổ sung thêm thức ăn chế biến, thức ăn tinh để thỏ sinh trưởng nhanh hơn.
  • Nên kiểm soát những con vật có thể gây hại cho thỏ, có thể dùng lưới để bảo vệ xung quanh.
  • Mô hình này chỉ nên áp dụng cho nuôi thỏ lấy thịt. Nếu không bán liền mà để thêm một thời gian thì chủ nuôi nên tiêm phòng và cần thắt tinh hoàn của thỏ đực để tránh sự giao phối.

Mô hình và cách nuôi thỏ trong nhà- chuồng trại

Khác với nuôi thả vườn, mô hình nuôi thỏ trong nhà tuy phải đầu tư nhiều vốn ban đầu để xây dựng chuồng trại. Nhưng về lâu dài, mô hình này mang lại năng suất và lợi nhuận cao hơn rất nhiều, dễ quản lý đàn và dễ dàng mở rộng quy mô chăn nuôi sau này. Hiện mô hình chăn nuôi này được áp dụng tại hầu hết các hộ nuôi thỏ ở Việt Nam.

Mô hình nuôi thỏ trong nhà - Nuôi thỏ theo chuồng trại
Mô hình nuôi thỏ trong nhà – Nuôi thỏ theo chuồng trại

Chuồng nuôi thỏ

Chuồng thỏ được làm từ những vật liệu dễ kiếm như tre, nứa, bương, gỗ nhưng cần đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật như phải để thỏ hoạt động dễ dàng thoải mái, không ảnh hưởng đến sức khỏe .

Chuồng nuôi thỏ phải bảo đảm vệ sinh thông thoáng và không bị mưa tạt, gió lùa. Mái của trại có thể dùng tol, lá tuy nhiên phải đảm bảo mùa hè không bị nắng nóng và mùa đông không bị lạnh. Nền chuồng nên làm bằng xi măng để dễ dàng vệ sinh.

Đối với lồng nuôi, tùy theo diện tích chuồng mà có thiết kế phù hợp. Một lồng nuôi thỏ có chiều dài 0,6-0,7m, chiều rộng 0,5-0,6m, chiều cao 0,5m. Chân lồng cách mặt đất khoảng 0,4-05m. Với diện tích này, có thể nuôi 1 con cái, hoặc 1 con đưc, hoặc con cái đang sinh sản. Đối với nuôi thỏ hướng thịt, thì 1m2 có thể nuôi từ 8-10 con.

Những dụng cụ nuôi thỏ là máng thức ăn thô, máng ăn tinh, chậu nước uống phải được thiết kế đúng kỹ thuật. Làm sao để thỏ dễ ăn uống, không thải phân và nước tiểu hoặc nằm được vào máng ăn, không cào bới được thức ăn ra đáy. Máng ăn, máng uống nên làm bằng nguyên liệu sẵn có và được thiết kế chắc chắn, thỏ không làm đổ được.

Một số mô hình Chuồng nuôi thỏ chuẩn

Mô hình chuồng trại nuôi thỏ
Mô hình chuồng trại nuôi thỏ
Chuồng trại nuôi thỏ thịt- Thỏ thương phẩm
Chuồng trại nuôi thỏ thịt- Thỏ thương phẩm

 

Mô hình chuồng nuôi thỏ thịt - thỏ thương phẩm
Mô hình chuồng nuôi thỏ thịt – thỏ thương phẩm
Mô hình nuôi thỏ trong nhà - Nuôi thỏ theo chuồng trại
Mô hình nuôi thỏ trong nhà – Nuôi thỏ theo chuồng trại

Thức ăn cho thỏ

Thức ăn nuôi thỏ gồm thức ăn xanh và thức ăn viên. Trong đó, thức ăn xanh gồm rau cỏ, lá cây … là thức ăn chính, còn thức ăn viên như ngũ cốc, cám viên được coi như là thức ăn bổ sung

Thức ăn xanh cho thỏ cần thu hái từ nguồn sạch sẽ. Không được cắt thức ăn ở những nơi chăn thả gia súc, gia cầm hoặc đọng nước để tránh các bệnh giun sán. Cũng không được cho thỏ ăn thức ăn đã bị mốc, chua, nẫu, lên men để tránh các bệnh tiêu chảy, trướng bụng đầy hơi. Không nên chất thức ăn thô xanh (cỏ, lá) thành đống sau khi cắt về, mà nên rải ra hoặc làm giàn phơi ráo nước mới cho ăn.

Cỏ: Thỏ thích ăn cỏ, nó có thể ăn được nhiều loại cỏ, từ cỏ hoang mọc trong tự nhiên như cỏ vừng, cỏ chỉ, cỏ tranh, cỏ lông para, cỏ gigantea, cỏ Ruzi, cỏ stylo … cho đến cỏ voi, vốn có thân cứng.

Nhờ vào bộ răng cửa sắc bén, hàm mạnh nên thỏ có thể ăn hầu như tất cả các loại cỏ mà nhóm đại gia súc như trâu bò, ngựa dê ăn được. Thỏ cũng thích ăn cỏ khô như cỏ lông, rau lang, rau muống, … Những loại cỏ và lá này cần rửa sạch rồi đem phơi thật khô, sau đó cho thỏ ăn dần.

Lá cây: Cũng giống như loài dê, thỏ cũng thích ăn các loại lá cây và còn thích hơn cả ăn cỏ. Vì vậy các lá và dây rau lang, rau muống, các lá và thân cây họ đậu, cùng các loại lá cây khác như lá vông, lá chuối, lá mít, và cả lá tre thỏ đều khoái khẩu cả.

Củ quả: Thỏ cũng thích ăn các loại củ quả như củ cà rốt, củ cải, khoai lang ta (khoai lang tây cho thỏ ăn cũng tốt, trừ củ khoa lang đã nẩy mầm, để gây ngộ độc). Chúng cũng thích ăn chuối chín, bí đỏ, lê, táo … Nói chung, đa số những thức ăn này đều chứa nhiều chất đạm, chất xơ vitamin … là những chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của thỏ ở mọi lứa tuổi.

Ngũ cốc: Thức ăn từ ngũ cốc, dù thỏ rất thích ăn, nhưng nên coi đó là thức ăn bổ sung cho thỏ mà thôi vì thức ăn chính của thỏ là cỏ và lá. Chỉ có cỏ, lá mới cho thỏ ăn tự do, còn thức ăn ngũ cốc như lúa, gạo lúc, cơm nguội, đậu xanh, đậu phộng, bắp (bắp trái, bắp hột, bắp xay) chỉ hạn chế cho ăn vào bữa tối, và chỉ nên cho ăn khoảng một nắm (tầm 100g) cho mỗi thỏ trưởng thành. Đã cho ăn ngũ cốc thì khỏi cho ăn cám viên.

Thức ăn viên: Thức ăn viên, nói chung là cám viên, tức cám hỗn hợp là thức ăn giàu dinh dưỡng giúp thỏ mau tăng trọng. Nuôi thỏ công nghiệp, loại thức ăn viên này chi nên cho thỏ ăn nhiều khi chúng trong khoảng tuổi từ 7 tuần đến 7 tháng. Từ 7 tháng tuổi trở về sau, thức ăn viên chỉ cho thỏ ăn ở mức hạn chế, khoảng 5% so với trọng lượng cơ thể chúng mà thôi. Vì rằng thức ăn viên sẽ làm cho thỏ mau béo phì, làm giảm khả năng sinh sản của cả thỏ cái và thỏ đực giống. Nhưng, với thỏ vỗ béo bán thịt thì thức ăn viên có thể cho ăn số lượng nhiều (ăn bữa tối). Có điều ta cần phải tính toán kỹ xem cho ăn như vậy liệu có thâm hụt ngân sách hay không, vì đây là loại thức ăn tốn chi phí khá cao.

Kỹ thuật chăn nuôi và chăm sóc thỏ

Thỏ là loài mắn đẻ, sinh sản nhanh, do vậy bà con có thể dễ dàng nhân giống để gia tăng số lượng cá thể thỏ và mở rộng quy mô chăn nuôi (tham khảo thêm bài viết chi tiết kỹ thuật nuôi thỏ sinh sản). Dưới đây là chi tiết kỹ thuật chăm sóc thỏ con và thỏ mẹ trong quá trình mang thai, sau khi sinh đến khi thỏ con tách mẹ.

Kỹ thuật nuôi thỏ giống – thỏ sinh sản

Thỏ đực, cái được chọn làm giống trên cơ sở các chỉ tiêu chọn lọc bên trong và chọn lọc ngoại hình lúc 3 tháng tuổi gọi là thỏ hậu bị giống.

Thỏ hậu bị giống từ 3 tháng tuổi trở đi phải được nhốt riêng từng ngăn lồng chuồng, nếu nhốt chung, chúng sẽ cắn nhau và giao phối giống tự do. Thỏ hậu bị phải đánh số hoặc có ký hiệu và phiếu lý lịch theo dõi cá thể.

Không nên cho thỏ hậu bị ăn nhiều tinh bột hoặc ăn nhiều các loại thức ăn giàu năng lượng dễ làm thỏ quá béo dẫn đến thỏ cái không động dục, thỏ đực không nhảy phối.

Cần đảm bảo vệ sinh môi trường nơi nuôi nhốt thỏ hậu bị và thường xuyên kiểm tra cơ quan sinh dục và sức khoẻ của chúng. Phải loại thải ngay những con hậu bị giống mắc bệnh truyền nhiễm hoặc cơ quan sinh dục phát triển không bình thường trước khi đưa vào phối giống lúc 6 tháng tuổi.

Kỹ thuật nuôi thỏ đực giống

Một thỏ đực trong đời nó có thể phối giống với hàng trăm con cái và nếu thụ tinh nhân tạo thì số đó còn tăng lên nhiều.

Việc xác định có bao nhiêu con cái có chửa , đẻ và có bao nhiêu con thỏ con ra đời trong đàn thỏ sản xuất là những chỉ tiêu rất quan trọng. Kết quả đó phụ thuộc rất lớn vào chất lượng con thỏ đực giống.

Khả năng thụ tinh của thỏ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: số và chất lượng tinh trùng, kích dục gây rụng trứng, nhiệt độ môi trường vv.. Việc kiểm tra chất lượng và số lượng tinh trùng là rất cần thiết nhằm chọn ra những con đực giống tốt cho phối giống.

Một số chỉ tiêu trung bình về tinh dịch thỏ như sau: pH: 6,8-7,3 V: 600-800 triệu/ml M: 0,14-0,57ml % hoạt lực: 55-65%

Nên nhốt thỏ đực giống vào một khu xa khu vực nhốt thỏ cái giống để tăng tính hăng của thỏ đực. Mùa hè cần tạo ra môi trường mát mẻ, thông thoáng cho thỏ đực giống. Lồng chuồng thỏ đực giống phải rộng rãi, sạch sẽ, phẳng và không có góc trú ẩn để thỏ dễ dàng phói giống.

Không nên cho thỏ đực giống ăn nhiều tinh bột, nên cho ăn bổ sung thức ăn giàu vitamin A, D, E như rau lá xanh, cà rốt, hạt nảy mầm để tăng số và chất lượng tinh trùng.

Kỹ thuật phối giống ở thỏ:

Mỗi con đực chỉ nên cho phối giống 2 lần/ngày. Thời điểm phối tốt nhất là vào sáng sớm. Khi phối giống cần bắt thỏ cái đến lồng thỏ đực. Nếu thỏ cái động hớn thì sẽ sãn sàng làm quen với thỏ đực và hoàn thành việc phối trong vòng 1-2 phút.

Biểu hiện của phối giống thành công là con đực nhảy xong, trượt xuống và kêu lên.

Tỷ lệ thỏ đực/cái trong đàn giống: Trong đàn giống thuần nên ghép 1 đực với 5-7 cái. Nếu trong đàn thương phẩm thì số thỏ cái có thể tăng lên gấp đôi.

Kỹ thuật nuôi thỏ chửa

Thời gian chửa của thỏ là 28-32 ngày. Nếu cho đẻ dày thì thời gian chửa thường dàI hơn 1-3 ngày. Khó có thể xác định thỏ chửa bằng quan xát ngoại hình. Phương pháp khám thai vào ngày thứ 10-14 sau khi phối là chính xác nhất.

Có thể kiểm tra thỏ chửa bằng cách dùng thỏ đực cho phối thử sau 10-14 ngày, nếu thỏ chửa thì không chịu đực nữa. Phương pháp này không chính xác và dễ làm thỏ chửa bị xảy thai.

Thỏ có chửa cần được cho ăn nhiều thức ăn giàu sinh tố A, D, E và tăng dần thức ăn tinh giàu protein để dưỡng thai tốt. Thức ăn thô xanh, củ quả thì phảI được ăn theo định lượng, nếu ăn quá nhiều thỏ sẽ dễ bị sảy thai do trướng hơi, đầy bụng.

Kỹ thuật nuôi thỏ đẻ và thỏ mẹ nuôi con

Cần chuẩn bị ổ đẻ chu đáo, vệ sinh đưa vào lồng trước khi đẻ 2-3 ngày. Khi thỏ đẻ và tiết sữa nuôI con cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng tốt và nước uống đầy đủ, tránh hiện tượng thỏ mẹ ăn con do thiếu khoáng và nước.

Thời gian này nên bổ sung cho thỏ mẹ uống nước đường hoặc ăn mía để phục hồi sức khoẻ nhanh, tiết sữa nhiều. Khi thỏ đẻ cần quan xát xem thỏ có đẻ ra ngoài ổ không, có nhổ lông làm ổ ấm không để có tác động hỗ trợ cho chúng như thu gọn con vào ổ, làm ổ cho chúng.

Kỹ thuật nuôi thỏ sinh sản
Kỹ thuật nuôi thỏ sinh sản

Yếu tố quan trọng trong khi chăm sóc thỏ đẻ và thỏ mẹ nuôi con là phải đảm bảo môi trường không khí, lồng chuồng, ổ đẻ, thức ăn nước uống sạch sẽ, vì các mầm bệnh truyền nhiễm thường xâm nhập vào cơ thể qua đường sinh dục khi đẻ, qua tuyến sữa khi cho con bú và qua thức ăn nước uống khi sức đề kháng cơ thể bị giảm sút. Mầm bệnh từ con mẹ rất dễ lan truyền sang đàn con qua đường sữa mẹ và tiếp xúc trực tiếp.

Kỹ thuật nuôi thỏ con theo mẹ

Nhu cầu nhiệt độ môi trường xung quanh ổ đẻ lúc mới đẻ là 30-32 độ C. Cho nên khi thỏ đẻ cần kiểm tra xem con mẹ có nhổ lông làm tổ ấm cho con sơ sinh không, nhất là mùa đông. Nếu không, thì cần nhổ tỉa lông bụng quanh núm vú của con mẹ trộn với đồ lót mềm, khô, sạch làm ổ cho đàn con nằm.

Hàng ngày phảI kiểm tra ổ đẻ và đàn con, loại bỏ những phần lót ổ bị ướt, bẩn và những con bị chết.

Sau một tuần thì thay hoàn toàn đồ lót ổ và sau 3 tuần thì bỏ ổ đẻ cho con ra ngoài lồng. Mùa đông rét buốt cần dể ổ đẻ vào nơi ấm áp, kín gió, có thể phải đốt sưởi để thỏ con không bị chết lạnh.

Thỏ con sơ sinh sau 15 giờ mới bắt đầu bú mẹ. Trong 18 ngày đầu, thỏ con sống và phát triển phụ thuộc hoàn toàn vào sữa mẹ. Hàng ngày phải kiểm tra thỏ con có được bú no không. Nếu thỏ no thì da căng, phẳng, 5-8 ngày đầu thấy bầu sữa màu hồng, căng phình ra ở khoang bụng, nằm yên tĩnh trong ổ ấm.

Nếu thỏ con đói thì da nhăn nheo, bụng lép, cựa quạy liên tục. Khi thỏ con đói , cần xem vú mẹ có viêm không, mẹ có sữa không, thỏ con có bị hoặc thỏ mẹ không cho con bú để có biện pháp khắc phục kịp thời như nuôI ghép, cho bú nhờ, đIều trị bệnh .

Khi đàn con được 18-21 ngày tuổi thì ra ổ, chúng đã biết ăn thức ăn với mẹ. Từ lúc này cần tập cho thỏ con chuyển tiếp dần từ sữa mẹ sang thức ăn cứng.

Lúc 23-25 ngày tuổi cơ thể đã hấp thụ được 50% nhu cầu dinh dưỡng từ thức ăn của mẹ.

Từ ngày thứ 26 sữa mẹ chỉ đáp ứng 20-30% nhu cầu dinh dưỡng của thỏ con. Cho nên từ khi thỏ con ra ổ cần hết sức chú ý đến đàn con bú mẹ và ăn được bao nhiêu để cung cấp thêm tiêu chuẩn khẩu phần ăn cho con mẹ tránh thỏ con chết đói và suy dinh dưỡng.

Thức ăn thô xanh phảI là loạI rau lá cỏ non để thỏ con tập ăn được. Thỏ mẹ chỉ vào ổ cho con bú một lần trong ngày đêm là đủ no. Đôi khi mẹ vào ổ bới đàn con, nằm trong ổ ỉa đái làm bẩn đồ lót ổ, có khi do sợ hãi vội nhảy vào ổ đẻ dẫm đạp vào đàn con làm chúng mất yên tĩnh.

Do đó sau khi đẻ một ngày nên đưa ổ đẻ có nắp đậy kín ra khỏi lồng chuồng thỏ mẹ, buổi sáng sớm hàng ngày mới đưa vào và mở nắp để con mẹ nhảy vào cho con bú. Như vậy đàn con bú rất chóng no, con mẹ thoảI máI, đàn con yên tĩnh, ổ đẻ sạch sẽ, đàn con ít bị nhiễm bệnh.

Thỏ mẹ chỉ có 8-10 núm vú, khi đàn con sơ sinh đông hơn 8 con, khi con mẹ chết hoặc mẹ không có sữa thì cần san bớt con đến cho con mẹ khác ít con cùng lứa tuổi để nuôi ghép. Nếu không san đàn được thì nên loạI bỏ những con yếu kém. Mỗi đàn chỉ nên để nuôI 6-8 con là tốt nhất.

Cách san đàn như sau: đưa ổ đẻ ra khỏi lồng, đặt thỏ con mới vào ổ rồi phủ lông kín cùng với đàn con cũ, sau 20-30 phút mới đưa ổ đẻ trở lại lồng thỏ mẹ. Thỏ mẹ sẽ không phát hiện ra đàn con lạ và sẽ nuôi con bình thường. Phương pháp này chỉ áp dụng đối với đàn thỏ nuôi thương phẩm.

Kỹ thuật cai sữa thỏ

Phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, phương thức nuôi mà lượng sữa mẹ cao nhất vào ngày 15-21 của chu kỳ và giảm dần đến ngày thứ 35-42 thì cạn hãn. Cho nên, có thể cai sữa vào lúc 28-42 ngày tuổi. Lúc đó thỏ con đã ăn được thức ăn tinh, thô rồi.

Nếu con mẹ đẻ dày (phối giống có chửa ngay sau khi đẻ) hoặc thỏ mẹ mắc bệnh, gầy yếu thì nên cai sữa sớm hơn. Nếu con mẹ đẻ thưa, nhiều sữa hoặc thể lực đàn con còn yếu thì cai sữa muộn hơn. Nhưng không nên cai sữa sớm trước 28 ngày dễ làm cho thỏ mẹ tắc sữa và cũng không nên cai sữa muộn sau 42 ngày gây ảnh hưởng đến sinh sản của thỏ mẹ lứa sau.

Có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến thỏ con khi cai sữa. Thỏ con lúc này rất nhậy cảm với các bệnh tật vì nó đã mất sự bảo vệ của mẹ và hết nguồn kháng sinh tự nhiên từ sữa mẹ. Hơn nữa thỏ thay lông lần đầu vào lúc 5-8 tuần tuổi, như vậy trùng với thời đIểm cai sữa, nên sẽ tăng thêm tác nhân stress.
Khi cai sữa thường lạI phảI cân cá thể, phảI vận chuyển sang lồng chuồng, nhà nuôI khác cũng gây ảnh hưởng đén thỏ non.

Sau cai sữa, thỏ con phảI ăn hoàn toàn thức ăn cứng, hết sữa mẹ. Tất cả các yếu tố trên đã tác động cùng một thời điểm, làm giảm sức đề kháng cơ thể của chúng. Đó là lý do mà tỷ lệ thỏ con sau cai sữa chết nhiều.

Có 3 phương pháp cai sữa:

+ Cai sữa truyền thống: Khi đến tuổi cai sữa, đưa toàn bộ đàn con sang chuồng mới để nuôi vỗ béo, hậu bị. Có nơi lại để nuôi chung lẫn các đàn con cùng ngăn chuồng mới. Phương pháp này sẽ tăng tác nhân kích thích bất lợi, làm thỏ chết nhiều.

+ Nuôi thỏ con một giai đoạn: khi cai sữa, để thỏ con theo từng đàn riêng ngay tại lồng chuồng thỏ mẹ và chuyển thỏ mẹ đi ngăn lồng chuồng khác. Đàn con được nuôi đến khi xuất sản phẩm hoặc chọn hậu bị giống. Phương thức này tốt hơn phương thức cai sữa truyền thống.

+ Nuôi thỏ con bán giai đoạn: Đưa thỏ mẹ đi lồng chuồng khác, để đàn con nuôi tại chỗ thêm 2-3 tuần rồi mới chuyển đi nuôi chuồng khác. Thỏ thường chết nhiều trong giai đoạn sau cai sữa do rối loạn tiêu hoá, suy dinh dưỡng.

Thỏ con từ 3-8 tuần tuổi có sức sinh trưởng lớn nhất, sau đó tốc độ tăng trọng giảm dần, đến 14 tuần tuổi trở đị tăng trọng chậm và tiêu tốn thức ăn lớn. Vì vậy sau khi cai sữa nên cho thỏ ăn theo định lượng tăng dần, thức ăn hợp vệ sinh và chế biến hợp lý.

Nếu giai đoạn này không đáp ứng nhu cầu thức ăn thì thỏ sẽ chậm lớn, sức đề kháng thấp sẽ sinh nhiều bệnh tật, đặc biệt là bệnh cầu trùng. Đến thời kỳ vỗ béo, trên 9 tuần tuổi thì nên cho ăn khẩu phần tự do với những loạI thức ăn giàu năng lượng như thóc, ngô, sắn, khoai, cơm nguội… và hạn chế thức ăn thô.

Kỹ thuật nuôi và chăm sóc thỏ thịt – Thỏ Thương Phẩm

Kỹ thuật nuôi thỏ thịt trải qua 3 giai đoạn: Ở giai đoạn khi thỏ còn nhỏ tính từ lúc cai sữa từ 30 – 70 ngày tuổi) có đến 70 – 80% thỏ đực thừa được đưa vào nuôi thịt. Ở giai đoạn này vẫn nuôi chung đúc, cái và con để làm giống.
Giai đoạn tiếp theo gọi là thỏ nhỡ (từ 70 đến 90 ngày tuổi nuôi dưỡng để thỏ sinh trưởng và phát triển đầy đủ tất cả và hoàn chỉnh.

Cả hai giai đoạn này, chưa cho thỏ ăn nhiều loại thức ăn dễ tích lũy mỡ (như ngô, cám, gạo, cơm…) cần cung cấp thức ăn giàu protein, vitamin, đủ chất xơ…

Cuối cùng là giai đoạn nuôi vỗ béo từ 90 – 120 ngày tuổi. Có khi chỉ vỗ béo 20 ngày là giết thịt. Giai đoạn này nuôi dưỡng để thỏ béo nhanh, giá thành 1kg hơi thấp nhất. Ở giai đoạn này cho ăn các loại thức ăn giàu tinh bột với tỷ lệ thích hợp như cám ngô, cám gạo, khoai sắn khô (60 – 100 g/con/này), các loại thức ăn thô xanh có thể giảm bớt (bình quân giai đoạn này chỉ cần 400 g/con/ngày).

Phòng và trị các bệnh phổ biến ở thỏ

Các bệnh cần phòng cho thỏ là ghẻ, tụ cầu trùng, nấm, bại liệt, bại huyết, trướng bụng đầy hơi. Hàng ngày phải quan sát thỏ kỹ càng để xem có con nào bị ốm không. Nếu thỏ ốm thì bỏ ăn, giảm trọng lượng, lông xù, lông xung quanh đuôi bẩn dính bết lại. Thỏ có khi nằm ở tư thế không bình thường hoặc không đi lại được dễ dàng.

Bệnh sình bụng, tiêu chảy

Thường xuất hiện ở thỏ trưởng thành và thỏ con sau cai sữa.

Nguyên nhân: Có thể nguồn thức ăn không đảm bảo chất lượng, ôi thiu, hoặc ta đổi nguồn thức ăn đột ngột.

Triệu chứng: Thỏ biến ăn, bụng chướng, phân lỏng có khi màu xám hoặc màu đen, thỏ gầy yếu và chết.

Điều trị: Ngưng cho ăn những thức ăn không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh. Bên cạnh đó, nên sử dụng các kháng sinh như Oxytetracilin, Colistin, Pectinomicin

Bệnh ghẻ

Nguyên nhân: Do ký sinh trùng phát triển trong điều kiện nuôi nhốt tập trung, ẩm thấp, kém vệ sinh gây nên.

Triệu chứng: Thỏ bị ngứa, rụng lông và những chỗ rụng lông sẽ xuất hiện những mảng vảy, nếu bị nặng thỏ có thể bị nhiễm trùng có mủ, sức khỏe sẽ suy yếu và chết.

Nuôi thỏ quan tâm bệnh ghẻ hàng đầu: dấu hiệu là có vẩy sùi dần lên ở lỗ tai, trên vành tai, ở sống mũi, mí mắt, móng chân, gót chân. Khi đó cần dùng thuốc nhóm ivermectin tiêm ngay. Khi thỏ gầy còm, tai, nũi, mí mắt sần sùi thì đó là dấu hiệu ghẻ cần biết. Để phát hiện thỏ bị ghẻ cũng cần kiểm tra móng chân, mũi và tai. Muốn phát hiện ra bệnh ghẻ cần được kiểm tra định kỳ mỗi tháng 2 lần để phát hiện kịp thời càng sớm càng tốt. Thỏ khỏe. lông phủ kín móng, nếu không thấy phủ kín là bị ghẻ.

Điều trị: Dùng Ivermectin, thường xuyên vệ sinh chuồng trại
Tiêm ghẻ tiêm dưới da ở gáy là tốt nhất. Thỏ chưa mang thai, tất cả các loại thuốc thú y dành cho chó, mèo tiêm được nhưng nồng độ giảm (thường dùng liều 0,5 – 0,7cc cho thỏ 2 kg)

Bại huyết

Đây là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở thỏ do một loại virus gây nên, có tính lây lan mạnh và dễ bùng phát thành dịch nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

Triệu chứng: Hay lờ đờ, sau đó bỏ ăn và chết hàng loạt. Bệnh này có thể chết đến 90% tổng đàn thỏ. Trước khi chết thỏ có triệu chứng giãy giụa, quay vòng, ọc máu ở mũi, miệng. Gan sưng to, phổi xuất huyết.
Điều trị: Bệnh này không có thuốc đặc trị. Hiện nay phòng bằng vacxin có trên thị trường, tiêm khi thỏ được 2 tháng tuổi và nhắc lại sau 6 tháng.

Bệnh tụ huyết trùng

Nguyên nhân: Do vi trùng pasteurella gây nên.

Triệu chứng: Thỏ có triệu chứng sốt cao 41-420C, viêm kết mạc, thở khó, dịch mũi chảy ra nhiều.

Điều trị: Có thể dùng các kháng sinh như Oxytetracilin, Anagin (sốt cao).

Chú ý: Phải bắt thỏ thật cẩn thận tránh gây chấn thương. Nếu nhấc thỏ lên phải nắm thật chắc chắn nhưng rất nhẹ nhàng. Khi bắt thỏ, không làm chúng sợ, chạy hỗn loạn và phản ứng lại, cào cắn. Không được nắm chân, nắm tai thỏ để nhấc lên. Vì tai thỏ có nhiều mạch máu, nếu túm vào tai thỏ dễ bị đứt mạch máu và chết. Với thỏ trưởng thành, một tay vuốt dọc tai và nắm chắc da vùng trên lưng sát gáy thỏ, tay khác đỡ dưới mông thỏ nhấc lên. Với thỏ con, cần nắm chắc vùng giữa xương chậu và mông nhấc thỏ lên để đầu thỏ cúi xuống.

One thought on “Kỹ thuật nuôi chăm sóc thỏ thịt, thỏ thương phẩm, thỏ sinh sản mang lại giá trị kinh tế cao

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Loading...